SanVat.orgOCOP, chỉ dẫn địa lý và sản vật an toàn
Chỉ dẫn địa lý

Chỉ dẫn địa lý khác nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận ra sao

Cùng mang tên địa danh nhưng chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận khác nhau về chủ sở hữu, thời hạn, ai được dùng. Giải thích rõ để đọc đúng bao bì.

Chỉ dẫn địa lý khác nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận ra sao

Ngoài chỉ dẫn địa lý, rất nhiều sản vật Việt Nam được bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu chứng nhận có chứa tên địa danh. Trên bao bì, cả ba đều có thể hiện dưới dạng một biểu trưng kèm tên vùng, người mua khó phân biệt, còn người bán thì thường gọi chung là “thương hiệu được nhà nước bảo hộ”.

Cả ba đều do Cục Sở hữu trí tuệ cấp văn bằng, nhưng bản chất pháp lý khác nhau: ai là chủ, ai được dùng, ai kiểm soát chất lượng, hiệu lực bao lâu. Bài này đi qua từng loại, chỉ ra khi nào một địa phương chọn loại này thay vì loại kia, và điều người mua nên rút ra.

Nhãn hiệu tập thể: dấu hiệu của một cộng đồng thành viên

Nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hoá của thành viên một tổ chức, như hội nghề nghiệp, hợp tác xã, hiệp hội, với hàng của người không phải thành viên. Chủ sở hữu là tổ chức tập thể đó. Ví dụ dạng thường gặp là tên sản vật kèm tên huyện hay tên làng, do hội sản xuất của địa phương đứng tên.

Thành viên được dùng nhãn hiệu theo quy chế do tổ chức ban hành, trong đó có thể quy định về vùng trồng, quy trình, chất lượng tối thiểu. Mức độ chặt chẽ của quy chế khác nhau rất nhiều giữa các nơi: có hội kiểm soát kỹ từng lô, có hội chỉ quản lý danh sách thành viên.

Văn bằng nhãn hiệu có hiệu lực mười năm tính từ ngày nộp đơn và được gia hạn nhiều lần, mỗi lần mười năm. Nếu tổ chức không gia hạn, nhãn hiệu hết hiệu lực dù sản phẩm vẫn bán trên thị trường.

Nhãn hiệu chứng nhận: một tổ chức đứng ra bảo đảm đặc tính

Nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu mà chủ sở hữu cho phép người khác dùng trên hàng hoá của họ để chứng nhận hàng đó đạt các đặc tính nhất định về nguồn gốc, nguyên liệu, cách sản xuất, chất lượng. Chủ sở hữu phải là tổ chức có chức năng kiểm soát, chứng nhận, và chính chủ sở hữu thì không được dùng nhãn cho hàng của mình.

Với sản vật, nhãn hiệu chứng nhận chứa địa danh thường do cơ quan ở địa phương đứng tên, ví dụ một sở hoặc trung tâm thuộc tỉnh, và cấp quyền sử dụng cho cơ sở sản xuất đạt tiêu chí. Cơ chế này gần với chỉ dẫn địa lý ở chỗ có kiểm soát đặc tính, nhưng khác ở chỗ chủ sở hữu là một tổ chức, không phải Nhà nước, và hiệu lực cũng là mười năm, gia hạn được.

Đặt ba loại cạnh nhau

Bảng dưới tóm tắt khác biệt chính theo Luật Sở hữu trí tuệ:

Tiêu chíChỉ dẫn địa lýNhãn hiệu tập thểNhãn hiệu chứng nhận
Chủ sở hữuNhà nướcTổ chức tập thể (hội, hợp tác xã, hiệp hội)Tổ chức có chức năng kiểm soát, chứng nhận
Ai được dùngNgười sản xuất trong khu vực, đáp ứng đặc tính đã mô tảThành viên của tổ chức theo quy chếNgười được chủ sở hữu cho phép sau khi đạt tiêu chí
Điều kiện cốt lõiĐặc tính chủ yếu do điều kiện địa lý quyết địnhPhân biệt hàng của thành viên với người ngoàiHàng đạt đặc tính do chủ sở hữu chứng nhận
Hiệu lựcVô thời hạnMười năm, gia hạn đượcMười năm, gia hạn được
Chuyển nhượngKhông được chuyển nhượngHạn chế theo luậtHạn chế theo luật

Vì sao địa phương chọn loại này hay loại kia

Chọn chỉ dẫn địa lý khi chứng minh được mối liên hệ với vùng đất. Cần nghiên cứu chỉ tiêu chất lượng, khoanh vùng, chứng minh danh tiếng; công phu nhưng bảo hộ mạnh và vô thời hạn. Hợp với sản vật đã nổi tiếng lâu đời như nước mắm Phú Quốc, cà phê Buôn Ma Thuột.

Chọn nhãn hiệu tập thể khi muốn tổ chức người sản xuất. Thủ tục nhẹ hơn, hợp với làng nghề, hợp tác xã muốn có dấu hiệu chung để quảng bá. Hiệu quả phụ thuộc vào năng lực của tổ chức.

Chọn nhãn hiệu chứng nhận khi cần một bên kiểm soát độc lập. Hợp khi sản phẩm có nhiều cơ sở làm, cần một tổ chức đứng ra kiểm tra và cấp quyền, nhưng chưa đủ dữ liệu để chứng minh như chỉ dẫn địa lý.

Có thể đi từng bước. Một số sản vật được bảo hộ nhãn hiệu tập thể hay nhãn hiệu chứng nhận trước, sau đó mới xây dựng hồ sơ chỉ dẫn địa lý khi đã có đủ nghiên cứu.

Người mua rút ra được gì

Không cần nhớ hết điều luật, chỉ cần giữ mấy ý sau khi đọc bao bì:

  • Thấy tên địa danh trên bao bì, đừng mặc định đó là chỉ dẫn địa lý; có thể là nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận, hoặc chỉ là tên thương mại tự đặt.
  • Cả ba loại bảo hộ đều tra được trên cơ sở dữ liệu của Cục Sở hữu trí tuệ, kết quả ghi rõ loại văn bằng và chủ sở hữu.
  • Chỉ dẫn địa lý gắn chặt nhất với vùng đất; nhãn hiệu tập thể nói nhiều về người làm; nhãn hiệu chứng nhận nói về việc có bên kiểm soát đặc tính.
  • Giá trị thật của cả ba nằm ở quy chế sử dụng và việc thực thi; quy chế lỏng thì dấu hiệu cũng ít ý nghĩa.
  • Nhãn hiệu riêng của doanh nghiệp có thể nằm cạnh các dấu hiệu chung này; đó là dấu hiệu để phân biệt cơ sở, không chứng nhận vùng.

Khi bị dùng trái phép thì xử lý thế nào

Với chỉ dẫn địa lý, hành vi dùng tên cho sản phẩm không có nguồn gốc từ khu vực địa lý, hoặc không đáp ứng đặc tính đã mô tả, là xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp. Tổ chức quản lý và cơ quan nhà nước có thẩm quyền như quản lý thị trường, thanh tra khoa học và công nghệ có thể xử lý. Với nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận, chủ sở hữu là người chủ động yêu cầu xử lý vi phạm.

Người tiêu dùng gặp hàng nghi mạo danh có thể phản ánh tới tổ chức quản lý hoặc chủ sở hữu, kèm ảnh bao bì và nơi bán. Thông tin cụ thể giúp việc xử lý nhanh hơn nhiều so với phản ánh chung chung trên mạng.

Một bao bì, nhiều lớp dấu hiệu

Thường thấy nhất là bao bì có cả nhãn hiệu riêng của cơ sở lẫn một dấu hiệu chung của vùng. Ví dụ dạng: tên thương mại của hợp tác xã ở góc trên, dấu chỉ dẫn địa lý hoặc nhãn hiệu tập thể của vùng ở góc dưới, kèm tem truy xuất. Đây là cách trình bày đúng: nhãn riêng để khách nhớ cơ sở, dấu chung để chứng tỏ hàng thuộc vùng.

Ngược lại, nếu một cơ sở tự thiết kế biểu trưng có tên vùng, trông như dấu chính thức nhưng không tra được văn bằng nào, thì đó chỉ là tên thương mại. Không vi phạm nếu cơ sở thật sự ở vùng đó và không làm khách hiểu nhầm, nhưng nó không có giá trị chứng nhận.

Câu hỏi thường gặp

Nhãn hiệu tập thể có mạnh bằng chỉ dẫn địa lý không?

Hai loại mạnh theo cách khác nhau. Chỉ dẫn địa lý gắn với vùng đất, thuộc Nhà nước, vô thời hạn. Nhãn hiệu tập thể thuộc tổ chức, có thời hạn mười năm gia hạn được, giá trị phụ thuộc nhiều vào quy chế và việc kiểm soát của tổ chức đó.

Người không phải thành viên hội có được dùng nhãn hiệu tập thể không?

Không, trừ khi quy chế của tổ chức cho phép theo điều kiện nhất định. Dùng nhãn hiệu tập thể khi không được phép là hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp và có thể bị xử lý.

Một sản phẩm có thể vừa có chỉ dẫn địa lý vừa có nhãn hiệu tập thể không?

Có thể có các dấu hiệu khác nhau cùng tồn tại trên một bao bì, ví dụ chỉ dẫn địa lý của vùng và nhãn hiệu riêng của cơ sở. Tuy nhiên luật có quy định để tránh nhãn hiệu trùng hoặc gây nhầm với chỉ dẫn địa lý đã bảo hộ.

Tra văn bằng nhãn hiệu tập thể ở đâu?

Trên cơ sở dữ liệu sở hữu công nghiệp của Cục Sở hữu trí tuệ, tìm theo tên nhãn hiệu hoặc tên chủ sở hữu. Kết quả cho biết loại nhãn hiệu, chủ sở hữu, ngày cấp và tình trạng hiệu lực.

Nhãn hiệu chứng nhận có phải do Nhà nước cấp cho sản phẩm đạt chuẩn không?

Cục Sở hữu trí tuệ cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu cho chủ sở hữu. Việc cấp quyền dùng nhãn cho từng cơ sở là do chủ sở hữu nhãn hiệu chứng nhận thực hiện theo quy chế của họ.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay